Vi du the marquee trong HTML
CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI WEBSITE VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI           SỐNG VÀ LÀM VIỆC THEO HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT LÀ THIẾT THỰC HƯỞNG ỨNG NGÀY PHÁP LUẬT VIỆT NAM !               
CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI WEBSITE VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI WEBSITE VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Những nội dung đáng chú ý trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 10/6/2020, hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021 có một số điểm mới đáng chú ý như sau:

Thứ nhất, mở rộng phạm vi của giám định tư pháp

Phạm vi giám định tư pháp đã được mở rộng theo hướng giám định tư pháp được trưng cầu, thực hiện ngay từ giai đoạn “khởi tố”, thay vì từ giai đoạn điều tra vụ án hình sự như quy định trước đây. (Khoản 1 Điều 1- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp)

Thứ hai, bổ sung việc cấp, thu thẻ giám định viên tư pháp gắn với bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp

Nhằm giúp giám định viên thuận lợi trong việc chứng minh tư cách giám định viên tư pháp, Luật đã bổ sung quy định về việc cấp thẻ giám định viên tư pháp (xuất trình thẻ để chứng minh thay cho quyết định bổ nhiệm).

Cụ thể, người được bổ nhiệm giám định viê n tư pháp thì được cấp thẻ giám định viên tư pháp.

Người có thẩm quyền bổ nhiệm thì có thẩm quyền cấp mới, cấp lại thẻ giám định viên tư pháp. Bộ Tư pháp sẽ ban hành thống nhất mẫu thẻ giám định viên tư pháp (Khoản 5 Điều 1- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp).

Thứ ba, thêm một số trường hợp miễn nhiệm giám định viên tư pháp

So với quy định tại Điều 10 Luật giám định tư pháp 2012 thì Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp đã bổ sung thêm một số trường hợp miễn nhiệm giám định viên tư pháp như sau:

+ Chuyển đổi vị trí công tác hoặc chuyển công tác sang cơ quan, tổ chức khác mà không còn điều kiện phù hợp để tiếp tục thực hiện giám định tư pháp;

+ Theo đề nghị của giám định viên tư pháp. Trường hợp giám định viên tư pháp là công chức, viên chức, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng thì phải được sự chấp thuận của cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp;

+ Giám định viên tư pháp được bổ nhiệm để thành lập Văn phòng giám định tư pháp nhưng sau thời hạn 01 năm, kể từ ngày được bổ nhiệm không thành lập Văn phòng hoặc sau thời hạn 01 năm, kể từ ngày có quyết định cho phép thành lập Văn phòng mà không đăng ký hoạt động.

(Khoản 6 Điều 1- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp).

Thứ tư, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có phòng giám định kỹ thuật hình sự

Theo quy định mới thì các tổ chức giám định tư pháp công lập về kỹ thuật hình sự sẽ bao gồm:

+ Viện khoa học hình sự thuộc Bộ Công an;

+ Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh;

+ Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc Bộ Quốc phòng;

+ Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao là đơn vị được quy định mới tại Luật này,  thực hiện giám định về âm thanh, hình ảnh từ các dữ liệu điện tử.

(Khoản 8 Điều 1- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp).

Thứ năm, điều kiện mở Văn phòng giám định tư pháp

Theo khoản 1 Điều 15 Luật Giám định tư pháp năm 2012, giám định viên tư pháp được thành lập Văn phòng giám định tư pháp khi có đủ điều kiện sau đây:

- Có từ đủ 05 năm trở lên là giám định viên tư pháp trong lĩnh vực đề nghị thành lập Văn phòng;

- Có Đề án thành lập nêu rõ mục đích thành lập; dự kiến về tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ sở; điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện giám định theo quy định của bộ, cơ quan ngang bộ quản lý chuyên môn về lĩnh vực giám định và kế hoạch triển khai thực hiện.

Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2021 khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp có hiệu lực, việc thành lập Văn phòng giám định tư pháp sẽ được nới lỏng điều kiện.

Cụ thể, giám định viên tư pháp có từ đủ 03 năm trở lên là giám định viên tư pháp và có hoạt động giám định trong lĩnh vực đề nghị thành lập Văn phòng thay vì phải hoạt động từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực đề nghị thành lập Văn phòng. (Khoản 9 Điều 1- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp).

Thứ sáu, về thời hạn giám định tư pháp

Đây là quy định hoàn toàn mới được bổ sung, theo đó, thời hạn giám định tư pháp đối với các trường hợp không thuộc giám định bắt buộc về tố tụng hình sự tối đa là 03 tháng.

Trường hợp vụ việc giám định có tính chất phức tạp hoặc khối lượng công việc lớn thì tối đa là 04 tháng.

(Khoản 16 Điều 1- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp)

Thứ bảy, sửa đổi quy định về kết luận giám định theo hướng cụ thể hơn

Để khắc phục những hạn chế về kết luận giám định tư pháp trong thực tiễn, Điều 32 đã được sửa đổi, bổ sung như sau:

-  Kết luận rõ ràng, cụ thể về nội dung chuyên môn của đối tượng cần giám định theo trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp;

- Bỏ quy định về chứng thực chữ ký của người giám định theo quy định của pháp luật về chứng thực khi trưng cầu, yêu cầu đích danh cá nhân giám định.

(Khoản 18 Điều 1 - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp)

Xem chi tiết Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp tạiđây.                                                                      

Nguyễn Hằng - Phòng 8

Tin khác
1 2 3 4 5  ... 





Thống kê truy cập
  • Đang online: 11
  • Hôm nay: 345
  • Trong tuần: 1,799
  • Tất cả: 881,887
Đăng nhập